Bình chọn
Quý độc giả muốn xem gì nhất trên Liễu Quán Huế?

Duyên sanh và tánh Không

Kích thước chữ: Decrease font Enlarge font
image
Nhiều người, do chỉ nhìn sơ lược bên ngoài, nói đạo Phật là “sắc sắc không không” một cách mơ hồ. Điều này dễ dẫn đến nhìn đạo Phật như là một lối sống bi quan, yếm thế. Từ khi có thêm lối suy nghĩ của văn hóa Tây phương vào đầu thế kỷ 20, chữ Không và Giải thoát càng thêm bị hiểu lầm.

Sau đây, chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu ở mức độ ý thức, lý tính, về tánh Không để giải tỏa bớt sương mù đang che khuất cái nền tảng  của Phật giáo Đại thừa. Tánh Không là nền tảng cho mọi kinh điển Đại thừa, và do đó là nền tảng cho mọi tông phái, cả lý thuyết và thực hành, như Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông, Duy Thức tông, Hoa Nghiêm tông… Chúng ta cũng sẽ hiểu thêm vì sao ngài Long Thọ không đặt tên cho tác phẩm của ngài về tánh Không là Tánh Không luận mà là Trung luận hay Trung đạo luận; và trường phái của ngài có tên là Trung đạo (Madhyamika School).

1. Vì duyên sanh nên là tánh Không

Duyên sanh nói đầy đủ là nhân duyên sanh. Cái gì hiện hữu, cái đó do những  nguyên  nhân  (causes) và những  điều  kiện, những  hoàn  cảnh,  những  duyên (conditions) kết hợp lại mà tạo thành. Sự hiện hữu dựa vào, tùy thuộc vào những  nhân  và duyên. Thiếu một nhân, hay một duyên, nó sẽ không hiện hữu hoặc hiện hữu một cách khác, nghĩa là nó không phải là nó nữa.

Kinh nói: “Cái này có nên cái kia có; cái này sanh khởi nên cái kia sanh khởi. Cái này không có nên cái kia không có; cái này diệt mất nên cái kia diệt mất.”

Chúng ta hãy nhìn một đóa hoa ở trước mặt. Sự hiện hữu của nó là do rất nhiều nhân duyên: hạt giống, có người trồng, điều kiện thời tiết đất đai thuận lợi, có người bán, có chúng ta mua về, có ý thức của chúng ta chọn lựa… Và tự đóa hoa, nó hiện hữu nhờ vào  những chất liệu tạo ra nó (chẳng hạn, đất, nước, lửa, không khí), nhờ vào những  phần  tử của nó như cành, lá, những  cánh, nhụy, mùi hương, màu sắc… Hơn nữa, nó hiện hữu vì có các thức giác quan và ý thức của tôi hiện hữu. Bông hoa  này hiện hữu nhờ vào, nương dựa vào, tùy thuộc vào rất nhiều nguyên nhân và điều kiện, nhiều đến nỗi không thể tính đếm hết. Bông hoa này hiện hữu là do duyên sanh. Sự hiện hữu của bông hoa là duyên sanh.

Những ý nghĩ để viết ra bài này, để bài này hiện hữu cũng  là duyên  sanh. Không có những  lời dạy trong kinh, không có những luận bàn của các luận sư, không có những bậc thầy của tôi, thì cũng chẳng có những ý nghĩ về tánh Không của tôi. Những ý tưởng ấy có được nhớ hay không, có được đào sâu hay không còn là do cuộc sống và sự thực hành của tôi. Những ý nghĩ của tôi cũng chẳng phải là của tôi: chúng chợt khởi lên rồi biến mất, không giữ được, có khi không nhớ kịp. May thì chúng khởi lên nhiều ý nghĩ hay, rủi thì toàn những ý nghĩ dở. Chúng không phải là một cái hộc bàn, kéo ra, muốn tìm cái gì thì thấy cái đó. Những ý nghĩ này là duyên  sanh. Rồi nữa, lý do để viết bài này, những cái gì xui khiến tôi viết bài này, tôi không biết rõ vì có quá nhiều lý do không thể biết, không thể nhớ. Tóm lại, những ý nghĩ tạo thành bài viết này và sự hiện hữu của bài viết này hoàn  toàn  là duyên  sanh. Thử nghĩ, nếu không có người đánh máy, tòa soạn không chịu đăng, hay không có người in ấn thì nó có mặt hay không.

Con người và sự vật là duyên sanh. Vì là duyên sanh, nương dựa, và tùy thuộc, chúng không có thực thể độc lập riêng biệt. Chúng không hiện hữu tự mình một cách nội tại mà chúng luôn luôn nương dựa vào, tùy thuộc vào tất cả những nguyên nhân và điều kiện khác. Chỉ cần một nguyên nhân, một điều kiện thay đổi, là chúng thay đổi. Mà những nguyên nhân và những điều kiện thì thay  đổi thường  trực. Chúng  là duyên  sanh  nên chúng  không có thực thể nội tại, điều này được Phật giáo hệ Pali thường gọi là vô ngã. Phật giáo hệ Sanskrit gọi là không có tự tánh, vô tự tánh.

Bản chất của con người và sự vật là duyên sanh, nên chúng không có thực thể (vô tự tánh), không có hiện hữu thực (vô sở hữu), không  có một  thực tại có thể nắm bắt (bất khả đắc), là Vô sanh, là tánh Không.

Lấy thí dụ đóa hoa ở trên. Đóa hoa này mai mốt sẽ tàn và đang tàn. Nó là vô thường. Bởi vì nó là vô thường, nên nó là vô tự tánh. Nó là tánh Không.

Từ duyên sanh, đi sâu hơn vào duyên sanh, chúng ta bắt gặp tánh Không. Tất cả các hiện tượng, tất cả các pháp là Không (Nhất thiết pháp không là một trong 18 nghĩa của tánh Không, theo kinh Đại Bát-nhã).

Trung luận, phẩm Quán Tứ đế nói:

Chưa từng có một pháp Không từ nhân duyên sanh Thế nên tất cả pháp

Không  chẳng phải Không.

Chúng ta thấy tánh Không không phải là không có cái gì cả, mà tánh Không là vì duyên sanh. Và vì duyên sanh  nên  không  có hiện  hữu nội tại độc  lập, gọi là không có tự tánh, vô tự tánh. Đi từ duyên sanh, chúng   ta đến  cái rốt ráo của duyên  sanh là tánh  Không, vô tự tánh.  Như vậy, tánh  Không không  bác bỏ duyên sanh, nghĩa là không bác bỏ nhân quả, vì nhân quả là một  phương  diện của nhân  duyên  sanh. Không bác bỏ nhân quả nghiệp báo cho nên không rơi vào đoạn kiến, chủ nghĩa hư vô. Mặt khác, không xem nhân quả nghiệp báo là có tự tánh và tất định, không thể chuyển hóa, tịnh hóa, cho nên không rơi vào thường kiến, chủ nghĩa vĩnh cửu.

Đây là một phần ý nghĩa Trung đạo của tánh Không.

Có thể  nói rằng, duyên  sanh  và nhân  quả là hiện tượng, tánh  Không là bản  thể. Nói theo  Trung luận, duyên sanh là chân lý tương đối, quy ước (tục đế) và tánh Không là chân lý tuyệt đối, tối hậu (đệ nhất nghĩa đế). Duyên sanh là hiện tượng của bản thể tánh Không. Và tánh Không là bản thể của hiện tượng duyên sanh.

Chư Phật y hai đế

 chúng sanh nói pháp

Một là thế tục đế

Hai, đệ nhất nghĩa đế

Nếu người không thể biết

Phân biệt hai đế này Đối Phật pháp sâu xa Không biết nghĩa chân thật Không y thế tục đế

Không được đệ nhất nghĩa Không đạt đệ nhất nghĩa Thì không đắc Niết-bàn.

Trung luận, Quán Tứ đế

Đệ nhất  nghĩa  đế là tánh  Không, mà tánh  Không được ngài Long Thọ tóm tắt trong bài kệ mở đầu của Trung luận:

Không sanh cũng không diệt Không thường cũng không đoạn Không một cũng không khác Không đến cũng không đi

Bậc thuyết giáo đệ nhất Nói pháp nhân duyên ấy Khéo diệt các hý luận Con cúi đầu lễ Phật.

2. Do tánh Không nên có duyên sanh

Chúng ta hãy đi đến tận cùng của sự vật. Chẳng hạn, đóa hoa ở trên. Đóa hoa duyên sanh từ những vi trần, những nguyên tử. Rồi những nguyên tử duyên sanh từ những hạt nhỏ hơn. Những hạt nhỏ hơn này lại duyên sanh từ những  cái nhỏ hơn nữa cho đến vô tận. Như vậy, khi đi đến tận cùng chúng ta gặp tánh Không rốt ráo (Tất cánh không, là một trong  18 nghĩa của tánh Không, theo Kinh Đại Bát-nhã).

Mọi con người, sự vật có sanh ra đều từ và do “nền tảng”, “căn bản” là tánh  Không hay vô tự tánh.  Nếu không có cái nền tảng  là vô tự tánh hay tánh Không ấy, không có cái gì được sinh ra, hiện hữu, và diệt mất.

Chính trên  nền  tảng  tánh  Không  mà thế  giới nhân duyên sanh khởi.

Dù vũ trụ này được sanh ra theo những nhân duyên nào và theo cách nào, hoặc Big Bang (Vụ nổ lớn) hay Big Bounce (Vụ nẩy bật lớn) hay “giống như một mạng lưới nhện do một con nhện nhả ra, rồi sau đó sẽ thu lại lưới nhện ấy vào mình” như theo  văn hóa Veda Ấn Độ, thì nó được sanh ra, được duyên sanh trên nền tảng vô tự tánh hay tánh Không.

Nước nếu giữ được tự tánh của nó thì không thay đổi, không  biến chuyển, không  thể  chảy, không  thể bốc hơi, không thể đóng băng, không thể trở lại thành khí hydro và oxy.  Vì nước có bản  chất là vô tự tánh, nó có thể chảy, bốc hơi, đóng băng, và tan thành  khí. Nhiều người thắc mắc về Phật giáo: Tại sao Phật giáo nói có tái sanh, có luân hồi lại đồng  thời nói vô ngã? Đã có luân hồi, tái sanh thì phải có một cái ngã để luân hồi, tái sanh chớ? Đến đây, trong bối cảnh tánh Không, chúng ta có thể trả lời, chính vì vô ngã, vô tự tánh, mới có tái sanh, có luân hồi. Nếu có một cái gì thực sự là ngã, là có tự tánh, thì làm gì có sự thay đổi, lưu chuyển, luân hồi?

Vì mọi sự là duyên sanh, nên mọi sự phải duyên sanh trên nền tảng vô tự tánh, trên nền tảng tánh Không.

Đây là điều ngài Duy-ma-cật nói với Bồ-tát Văn-thù- sư-lợi, “Từ gốc vô trụ (vô tự tánh) mà tất cả các pháp được thành lập.” (Phẩm Quán chúng sanh, kinh Duy-ma-cật).

Trung luận cũng nói:

Do vì có nghĩa Không Tất cả pháp được thành Nếu không có nghĩa Không Tất cả pháp chẳng thành

(Phẩm Tứ đế)

Chúng ta thấy, vì có tánh Không, có vô tự tánh, nên có duyên sanh, có nhân quả, có nghiệp  báo. Như thế, tánh  Không không  phải là không  có gì, tánh  Không không bác bỏ nhân quả, nghiệp  báo, nghĩa là không phải đoạn kiến, chủ nghĩa hư vô.

Ngược lại, duyên sanh có nền tảng  tối hậu là tánh Không, nên  duyên  sanh  không  phải là thường  kiến, không phải là chủ nghĩa vĩnh cửu. Duyên sanh nhờ có nền tảng trên tánh Không, y cứ trên tánh Không mà có sự giải thoát cho duyên sanh.

Đây là một phần ý nghĩa Trung đạo của tánh Không, không rơi vào hai cực đoan đoạn kiến và thường kiến; đồng  thời sử dụng  cả duyên sanh và tánh  Không để lập nên con đường Trung đạo tiến đến  giải thoát  và giác ngộ.

Chính vì đi giữa thường  kiến và đoạn kiến, giữa có và không, nên tánh  Không còn có một phương  diện nữa là“giả”, là “như huyễn”:

Pháp các nhân duyên sanh

Ta nói tức là Không

Cũng gọi là giả danh

Cũng là nghĩa Trung đạo.

(Phẩm Tứ đế)

Kinh Kim Cương, một kinh thuộc  hệ Bát-nhã tánh

Không, đã chấm dứt bằng bài kệ:

Tất cả pháp hữu vi

Như mộng huyễn bọt ảnh Như suơng cũng như chớp Hãy tu quán như vậy.

 3. Ý nghĩa của Trung đạo

Con đường Bồ-tát là con đường của hai sự tích tập: tích tập công đức và tích tập trí huệ. Tích tập công đức là việc làm nằm trong vòng duyên sanh, nhân quả. Tích tập công đức là hoàn thiện trí huệ soi thấu tánh Không.

Với Bồ-tát, hai sự tích tập này phải thông với nhau, đồng bộ dần dần cho đến mức hợp nhất. Ví dụ trong kinh Kim Cương, tích tập công đức là bố thí, nhẫn nhục, trang nghiêm  cõi Phật, thuyết  pháp, cứu giúp chúng sanh…, mọi hành động này đều phải tương ưng với trí huệ soi thấu tánh Không.

Như vậy đây là con đường Trung đạo của  Bồ-tát,  đi  giữa một bên là duyên sanh, tạo nhân để thành quả, và một bên là tánh Không. Con đường Trung  đạo này đi giữa sanh tử (duyên sanh) và Niết-bàn (tánh Không).

Trung  đạo  của  người  hành Bồ-tát đạo  là tạo  lập, xây dựng công  đức, là công  việc ở trong nhân  quả  duyên  sanh  của sanh tử, nhưng không ở trong sanh tử vì đồng  thời vẫn thể nhập  tánh Không; và thể nhập  tánh Không nhưng   không   lìa  bỏ  sanh   tử, không lìa bỏ chúng sanh. Ở một cấp  độ  rất  cao, Bồ-tát vẫn  học tánh   Không  mà  không  chứng nhập   tánh  Không.  (Học Không bất chứng, một phẩm  của  kinh Đại Bát-nhã).

“Bồ-tát tuy hành môn tam muội giải thoát Không, nhưng trong đó không chứng vô tướng, không rơi

vào hữu tướng. Vì sao thế? Bồ-tát này trí huệ sâu xa, thiện căn đầy đủ, nghĩ như thế này, ‘nay là lúc học không phải lúc chứng’…, vì Bồ tát không từ bỏ tất cả chúng sanh.” (Kinh Phật Mẫu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, phẩm Phương tiện thiện xảo.)

Với sự tích tập công đức ở trong ba cõi sanh tử, Bồ- tát dần dần thành tựu Sắc thân, gồm Báo thân và Hóa thân. Với sự tích tập trí huệ tánh Không, Bồ-tát dần dần thành tựu Pháp thân. Khi hai sự tích tập ấy viên mãn, Bồ-tát đầy đủ cả ba thân, Pháp thân, Báo thân và Hóa thân viên mãn, và thành một vị Phật.

Trung đạo là đi giữa và hợp nhất sanh tử sanh diệt và Niết-bàn tánh Không. Sự hợp nhất này là “duyên sanh tức vô sanh” và “vô sanh mà duyên sanh”. Cuối cùng, Bồ tát chứng ngộ sanh tử sanh diệt là Niết-bàn tánh Không, còn gọi là Vô trụ xứ Niết-bàn, như Trung luận, phẩm Quán Niết-bàn nói:

Niết-bàn và thế gian Không mảy may phân biệt Thế gian và Niết-bàn

Cũng không chút phân biệt. Thật tế của Niết-bàn

 thật tế thế gian

Cả hai thật tế ấy

Không mảy may sai khác.

Sự không mảy may sai khác vượt khỏi mọi có không này được các kinh gọi là tánh  Như, Chân Như. Trong kinh Đại Bát-nhã, tánh  Không cũng  tức là tánh  Như, Chân Như, Nhất Tướng…  Kinh Kim Cương nói: “Như Lai, đó là nghĩa Như của tất cả các pháp”.

Tánh Không không phải là không có gì cả, mà là không có những  vọng tưởng  thấy sai lầm về thực tại, cho nên còn được gọi là tánh  Như. Tánh Như là nghĩa Trung đạo trong bài kệ của Ngài Long Thọ:

Pháp các nhân duyên sanh – ta nói tức là Không – cũng gọi là giả danh – cũng là nghĩa Trung Đạo.”

Chúng ta trích thêm một đoạn về tánh Như trong kinh Duy-ma- cật, phẩm Bồ-tát:

“Làm sao ngài Di-lặc được thọ ký sanh một  đời nữa thì thành Phật? Là theo Như sanh mà được thọ ký ư? Là theo Như diệt mà được thọ ký ư? Nếu vì Như sanh mà được thọ ký, thì Như không có sanh. Nếu do Như diệt mà được thọ ký, thì Như không có diệt. Tất cả chúng sanh đều là Như. Các thánh hiền cũng là Như. Cho đến ngài Di-lặc cũng là Như. Nếu ngài Di-lặc được thọ ký thì tất cả chúng sanh cũng phải được thọ ký. Tại sao như thế? Đã vốn là Như, thì không hai, không khác.

Nếu Ngài Di-lặc đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì tất cả chúng sanh cũng phải đắc. Tại sao như thế? Tất cả chúng sanh là tướng Bồ-đề. Nếu ngài Di-lặc được diệt độ, thì tất cả chúng sanh cũng được diệt độ. Tại sao như thế? Chư Phật thấy biết tất cả chúng sanh rốt ráo tịch diệt, tức là tướng Niết-bàn, chẳng phải chờ đợi sự diệt độ nào nữa”.

 NGUY Ễ N TH Ế  ĐĂ NG | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 139

Đánh dấu lên: Add to your del.icio.us del.icio.us | Digg this story Digg

Subscribe to comments feed Phản hồi (0 bài gửi):

tổng cộng: | đang hiển thị:

Gửi phản hồi của bạn comment


Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt

Xin hãy nhập vào mã bạn nhìn thấy trong hình dưới đây:

Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Video
Đánh giá bài viết
0
Từ khóa trong bài
Bài viết này không có từ khóa nào